Trong 10 năm qua, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh trên phạm vi cả nước, tỉ lệ đô thị hóa năm 1999 là 23,5%, đến năm 2009 đạt 29,6% (trung bình tăng 3,4%/năm).
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Xây dựng, hệ thống đô thị Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề về chất lượng.
Mất cân đối về hạ tầng
Từ 1999 đến 2009, tỉ lệ nhà kiên cố tại các đô thị đã tăng từ 12,8% lên 46,77%, diện tích nhà ở bình quân đầu người tăng từ 9,7m2 sàn/người lên 16,7m2 sàn/người. Hiện, cả nước có trên 630 Khu ĐTM với tổng diện tích trên 100.000ha, đã giải quyết từng bước nhu cầu nhà ở của người dân đô thị. Các công trình công cộng như: Bệnh viện, trường học, công viên đã được quan tâm đầu tư. Tuy nhiên, cơ cấu sử dụng đất đô thị chưa hợp lý, đất ở chiếm tỉ lệ cao, chủ yếu nhà ở theo hộ gia đình độc lập, Hà Nội chiếm 80%, TP. HCM 72%. Trong khi đó, đất sử dụng cho công trình hạ tầng xã hội còn thấp chỉ đạt 70% theo qui định. Tại các đô thị, tỉ lệ đất dành cho giao thông còn thấp chưa đến 13% (yêu cầu từ 20 - 25%), tỉ lệ đất dành cho giao thông tĩnh dưới 1% (yêu cầu từ 3 - 3,5%).
Những tồn tại của hệ thống đô thị Việt Nam đã được Bộ Xây dựng chỉ ra mà rõ nhất là tác động của tốc độ tăng trưởng và đô thị hóa cao, đã dẫn đến sự mất cân đối trong khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị. Mạng lưới giao thông tại các đô thị lớn chưa đủ khả năng phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển, tình trạng UTGT xảy ra thường xuyên… Công tác quản lý đô thị cũng chưa theo kịp thực tiễn phát triển như khả năng dự báo của công tác qui hoạch chưa đáp ứng xu thế phát triển đô thị. Phát triển các Khu ĐTM chưa xuất phát từ qui hoạch, kế hoạch. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội triển khai chậm, thiếu đồng bộ. Tình trạng lãng phí đất đai trong các đô thị chưa được khắc phục.
Nâng chất lượng đô thị
Mục tiêu của Chương trình đặt ra là phải kiểm soát phát triển hệ thống đô thị toàn quốc theo phân loại, từng bước hoàn chỉnh mạng lưới đô thị Quốc gia phù hợp với giai đoạn phát triển của đất nước. Phấn đấu đến năm 2015 tỉ lệ đô thị hóa cả nước đạt 38% với 870 đô thị và năm 2020 đạt 45% với 940 đô thị. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao chất lượng đô thị, tăng cường sức cạnh tranh đô thị trong khu vực và quốc tế. Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, kiến trúc cảnh quan phù hợp, đồng bộ, hiện đại tạo môi trường đô thị sống tốt. Để đạt được cả hai mục tiêu, Bộ Xây dựng cho rằng cần xây dựng các giải pháp và nhiệm vụ triển khai thực hiện trong những giai đoạn tới. Kiện toàn cơ chế chính sách, tạo nguồn vốn nâng cao năng lực, trách nhiệm của chính quyền đô thị.
Với những mục tiêu đó, dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển đô thị trong giai đoạn 2011 - 2020 là 1.098 nghìn tỉ đồng. Nguồn vốn cho phát triển đô thị dự kiến sẽ được tạo lập từ vốn Ngân sách Nhà nước; vốn ODA; Quĩ Đầu tư phát triển và các nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế khác. Bộ Xây dựng đề xuất Chính phủ nghiên cứu xây dựng phương án khai thác nguồn thu từ Quĩ Phát triển đất đô thị cùng các cơ chế huy động vốn, khuyến khích đầu tư vào hạ tầng đô thị.
|
Ở khía cạnh phát triển đô thị, mặc dù có nhiều tiến bộ nhưng cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề sử dụng đất. Trong định hướng qui hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998 có dự báo, đến năm 2010, diện tích đô thị khoảng 243.000ha, chiếm 1,4% diện tích cả nước. Nhưng thực tế chỉ đến năm 2005, diện tích đô thị cả nước đã là trên 325.000ha, vượt quá 1,8 lần so với dự báo.
TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm Hội Qui hoạch và Phát triển Đô thị Việt Nam
|
KInh te do thi